Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt

Kết cấu là mối liên hệ giữa các yếu tố nội dung văn bản. Nói cách khác kết cấu là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố nội dung của văn bản. Trong các phong cách văn bản khác, kết cấu cũng khác nhau: + Trong các phong cách văn bản chuẩn mực, kết cấu theo trật tự logic về thời gian (trật tự phía sau về không gian (thường từ rộng ->hẹp, ngoài, trong, trên xuống dưới). + Trái lại, đối với các phong cách văn bản lệch chuẩn, kết cấu hoàn toàn không mang tính bắt buộc, trật tự logic không theo trật tự logic khách quan mà theo logic chủ quan của tác giả.

pdf45 trang | Chia sẻ: phanlang | Ngày: 26/04/2015 | Lượt xem: 5335 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g kết ngôn những yếu tố (lặp tố) đã có ở chủ ngôn. Để sử dụng phép lặp người ta thường: lặp âm thanh, từ, cụm từ, cấu trúc câu. Bao gồm: - Lặp từ vựng: Khi dùng đi dùng lại nhiều lần trong văn bản những từ ngữ nhất định ở những phần không quá xa nhau trong văn bản, nhằm mục đích tạo sự liên kết ta gọi cách liên kết đó gọi là lặp từ vựng. Ví dụ: Cơm xong, Minh trở về buồng mình nằm xem báo. Anh chưa đọc hết nửa trang báo thì nghe tiếng gọi ngoài cửa. (Nguyễn Thị Ngọc Tú) * Lặp từ vựng không phải là sự lặp lại từ ngữ “để cùng chỉ một sự vật, hiện tượng” như nhiều người lầm tưởng. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 12 Ví dụ: “Một người đi với một người. Một người đi với nụ cười hắt hiu” (Chuyện ba người) Yếu tố từ vựng “một người” được lặp lại nhưng nhằm chỉ những người rất khác nhau. Sự lặp lại ở đây không phải để nhấn mạnh vào tính đồng nhất mà chỉ mượn cái đồng nhất để xoáy sâu vào mặt khác biệt. * Việc lặp lại từ ngữ xảy ra ở hai câu khác nhau với mục đích tạo sự liên kết thì mới được xem là phép lặp từ vựng. Trường hợp như: “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều” không phải là lặp từ vựng. * Cũng không nên nhầm “lỗi lặp từ vựng” (lặp một cách không cần thiết) với phép lặp từ vựng. Chẳng hạn như bài văn của một em học sinh như sau: “Hôm nay sân trường lá bàng rụng nhiều. Thấy lá bàng rụng chúng em vội xúm nhau lại quét lá bàng. Chẳng mấy chốc mà chúng em đã quét sạch lá bàng” - Lặp ngữ pháp: là dùng nhiều lần một kiểu cấu tạo cú pháp nào đó (có thể nguyên vẹn hoặc biến đổi chút ít) nhằm tạo ra tính liên kết ở những phần văn bản chứa chúng. Thông thường, người viết thường lặp lại những cú pháp đơn giản và ngắn gọn để gây hiệu quả về nhịp điệu, nhờ đó gia tăng được tính liên kết. Phép lặp cú pháp thường có lặp từ vựng đi kèm. Ví dụ: Từng ngày, mẹ thầm đoán con đã đi đến đâu. Từng giờ, mẹ thầm hỏi con đang làm gì. (Nguyễn Thị Như Trang- Tiếng mưa) Cấu trúc cú pháp được lặp lại là: “Trạng ngữ - CN-VN-BN” Ví dụ: Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu! Cấu trúc cú pháp ở hai câu này là: “Đề ngữ-dạng câu đặc biệt” Ví dụ: Đòn gánh có mấu Củ ấu có sừng Bánh chưng có lá …. (Đồng dao) Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 13 Khuôn hình cú pháp chung (được lặp): Danh từ - có- danh từ - Lặp ngữ âm: Lặp tố là các yếu tố ngữ âm (âm tiết, số lượng âm tiết, khuôn vần,…) Ví dụ: Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng lên thành đồng Tổ quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre. (Thép Mới) b. Phép đối Là việc sử dụng trong kết ngôn một ngữ đoạn (từ, cụm từ) có ý nghĩa đối lập với một ngữ đoạn nào đó ở chủ ngôn. Bao gồm: - Đối bằng từ trái nghĩa Ví dụ: Nhà thơ gói tâm tình của tác giả trong thơ. Người đọc mở thơ ra, bỗng thấy tâm tình của chính mình. (Lưu Quý Kì) - Đối phủ định Ví dụ: Cứ quan sát kĩ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản chỉ vì tôi tin vào ông cụ. (Nam Cao) - Đối miêu tả Ví dụ: Con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. (Nam Cao - Đối lâm thời Ví dụ: Khẩu súng là vũ khí có thể giết người. Trái tim là khái niệm gợi lên những tình cảm tốt đẹp. (Lưu Quý Kỳ) c. Phép thế đồng nghĩa Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 14 Là việc sử dụng trong chủ ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn khác nhau có cùng một nghĩa (chỉ cùng một đối tượng). Bao gồm: - Thế đồng nghĩa từ điển Ví dụ: Phụ nữ lại càng cần phải học. Đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới. (Hồ Chí Minh) - Thế đồng nghĩa phủ định Ví dụ: Nó phải đi hết chỗ này chỗ nọ, để kiếm cái nhét vào dạ dày. Để nó sống. Vì nó chưa chết (Nguyễn Công Hoan) - Thế đồng nghĩa miêu tả Ví dụ: Cai lệ, tát vào mặt chị một cái đánh bốp[…]. Chị Dậu, nghiến hai hàm răng[…] túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện, chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất[…] (Ngô Tất Tố) - Thế đồng nghĩa lâm thời Ví dụ: Một số phường săn đến thăm dò để găng bẩy bắt con cọp xám. Nhưng con ác thú tinh lắm, đặt mồi to và ngon đến đâu cũng không lừa nó nổi. (Truyện cổ tích Nghè hóa cọp) d. Phép liên tưởng Là việc sử dụng trong chủ ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn có liên quan về nghĩa với nhau thông qua một số ít nét nghĩa chung và không chứa nét nghĩa đối lập. Bao gồm: - Liên tưởng bao hàm Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 15 Ví dụ: Trong nhà có tiếng guốc lẹp kẹp. Cửa từ từ mở. (Nguyễn Quang Sáng) - Liên tưởng đồng loại Cóc chết bỏ nhái mồ côi. Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ơi là chàng! Ễnh ương đánh lệnh đã vang! Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi! (Ca dao, dẫn theo Trương Chính – Phong Châu, Tiếng cười dân gian Việt Nam, Hà Nội, 1979, tr.339) - Liên tưởng định lượng Ví dụ: Người mẹ chồng và nàng dâu nhìn nhau. Hai người chợt thấy lẻ loi, cô đơn và thương nhau lạ lùng. (Tô Hoài) - Liên tưởng nhân quả Ví dụ: Từ năm 1931 đến năm 1933 thực dân Pháp khủng bố tợn. Cán bộ và quần chúng bị bắt và hi sinh rất nhiều. (Hồ Chí Minh) - Liên tưởng định vị Ví dụ: Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên. (Tố Hữu) - Liên tưởng đặc trưng Ví dụ: Rõ ràng là bằng mắt phải anh vẫn thấy hiện lên một cánh chim én chao đi chao lại. Mùa xuân đã đến rồi. (Nguyễn Trung Thành) Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 16 e. Phép tuyến tính Sử dụng trật tự tuyến tính của các phát ngôn vào việc liên kết các phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung. Bao gồm: - Quan hệ giải thích (bổ sung): Ví dụ: Bỗng cửa buồng mở phanh ra; rồi tự đóng lại. Nghĩa vào. (Nguyễn Công Hoan) - Quan hệ nguyên nhân: Ví dụ: Nó khụy cẳng. (…) Một củ khoai ở mẹt biến mất. (Nguyễn Công Hoan) - Quan hệ rộng-hẹp (bổ sung): Ví dụ: Kháng chiến tiến bộ mạnh. Quân và dân ta tiến bộ mạnh. Nghệ thuật cũng cần tiến bộ mạnh. (Hồ Chí Minh) - Quan hệ nối tiếp trong thời gian: Ví dụ: Cô bĩu môi. Anh mặc kệ đối chiếu với Anh mặc kệ. Cô bĩu môi. (Nguyễn Phan Hách) f. Phép thế đại từ Sử dụng trong kết ngôn những đại từ (hoặc từ đại từ hóa) để thay thế cho một ngữ đoạn nào đó của chủ ngôn. Bao gồm: - Thế đại từ khiếm diện và hồi báo Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 17 Ví dụ: LUYỆN VỚI BIỂN Ông bị ngọng từ bé. Tại sao? Không thể biết rõ. Nhưng ông quyết chữa bằng được. Ông tập đọc, tập nói ở trong phòng một mình. Đọc nói từng chữ, từng câu. Rồi ông ra bãi biển mồm ngậm sỏi, gào thử với sóng nước. Chẳng những chữa khỏi tật, mà ông còn trở thành người hùng biện của một thời: Coóc nây. (Tiền phong, số 19,1984) - Thế đại từ diện hồi quy Ví dụ: Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. (Hồ Chí Minh) Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói một cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi bằng cớ. Chính anh, anh cũng tự cảm thấy thế. Và khi biết thế anh càng hoang mang. (Vũ Thị Thường) Keng phải may một bộ cánh. Việc này không thể cho bố biết được. (Nguyễn Kiên) g. Phép tỉnh lược yếu Là sự lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố có mặt trong chủ ngôn (và sự vắng mặt này phá vỡ sự hoàn chỉnh về nội dung của kết ngôn mà không ảnh hưởng gì đến cấu trúc nòng cốt của nó). Làm giảm “độ dư” – yếu tố lặp (trái ngược với phép lặp, phép thế đồng nghĩa…) - Tỉnh lược bổ ngữ trực tiếp ở câu kết Ví dụ: Quyên mò thắt lưng Ngạn lấy bi đông. Cô lắc nhẹ (…) Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 18 Ví dụ: Chị thích nhất là khoai lang luộc. Ngày nào má tôi cũng mua (…) về cho chị. Ví dụ: Tên lính đã trở lại. Lần này có tên trung úy đi theo (…) - Tỉnh lược bổ ngữ gián tiếp (và cả bổ ngữ trực tiếp) ở câu kết: Ví dụ: Bố viết thư ngay cho mẹ để mẹ biết tin. Rồi con sẽ viết (…1) (…2) sau. - Tỉnh lược chủ ngữ ở câu kết: Ví dụ: Chúng ta phải tiến lên, cách mạng phải tiến lên nữa. Nếu (…) không tiến tức là (…) thoái. Và nếu (…), thoái thì những thắng lợi đã đạt được không thể củng cố và phát triển. (Hồ Chí Minh) - Tỉnh lược động từ đi sau trong chuỗi động từ ở câu kết: Ví dụ: Chị chuyện trò giảng giải, khuyên anh phản cung. Cuối cùng, anh bằng lòng (…). (Trần Hiếu Minh) - Tỉnh lược định ngữ của danh từ: Ví dụ: Ông chồng thổi kèn tàu hăng quá. Hai mắt ông trợn ngược lên. Hai má (…) phình to. Cái cổ (…) to như cổ trâu, nổi cục lên. Cái đầu (…) lúc lắc trông ngộ lắm. h. Phép nối lỏng Là sự có mặt trong kết ngôn những phương tiện từ vựng không làm thay đổi cấu trúc của nó và diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà ngôi còn lại là chủ ngôn. Bao gồm: - Kiểu có từ ngữ chuyển tiếp như cuối cùng, đồng thời, mặt khác, thứ hai (là), nói khác đi, tóm lại… - Kiểu tổ hợp “quan hệ từ + đại từ” loại như vì vậy, nếu thế, từ đó, trước đây… Các phương tiện nối lỏng Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 19 Phương tiện chuyển tiếp - Các từ: thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn, vả lại, thậm chí, song le, sự thật, đặc biệt… - Các kết hợp cố định hóa: tiếp theo, thứ hai, ngoài ra, hơn nữa, mặt khác, trái lại, ngược lại, tóm lại, nhìn chung… - Các kết hợp có xu hướng cố định hóa: nói cách khác, nói khác đi…,trên đây, sau đó, do vậy…;thế là.. Phương tiện so sánh: cũng, lại, vẫn, càng, còn, cứ nốt… i. Phép tỉnh lược mạnh Sự lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố làm thành phần nòng cốt, dựa vào sự có mặt của chúng trong chủ ngôn ngữ trực thuộc. Bao gồm: - Tỉnh lược đơn: Tỉnh lược một thành phần (trạng ngữ/chủ ngữ/vị ngữ). - Tỉnh lược phức: Tỉnh lược hơn một thành phần. Ví dụ: Chỉ ở những chỗ không ai ngờ tới mới có đò ngang sang sông. (…) Có lối tắt vòng sau lưng phủ Hoài ra đầu ô. Và (…) có hàng quán. Ông có xe hơi, có nhà lầu, có đồn điền, lại có cả trang trại của nhà quê. Vậy thì (…) chính là một người giàu đứt đi rồi. Hai người qua đường đuổi theo nó. Rồi ba bốn người, sáu bảy người (…) Người ta đến càng đông. Vẫn đánh nó. (…) (…) Cả đòn càn, đòn gánh nữa. k. Phép nối chặt Sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (LK hồi quy) hoặc chỗ kết thúc (LK dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa ngữ trực thuộc với chủ ngôn. Các phương tiện nối chặt Quan hệ định vị Quan hệ logic diễn đạt Quan hệ logic sự vật Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 20 Quan hệ định vị Định vị thời gian - TG kế tiếp: rồi, đến, từ - TG đảo: trước, sau - TG đồng thời: và Định vị không gian - KG tâm: ở, tại, trong, giữa - KG biên: bên, cạnh, gần, ngoài, trên, dưới - KG định hướng: từ, đến, tới, về, ra, vào, lên, xuống Quan hệ logic diễn đạt Trình tự diễn đạt - Đẳng lập: và, với, cùng - Tuyển chọn: hay, hoặc Thuyết minh - bổ sung: như, rằng Quan hệ logic sự vật Nhân quả: - Nguyên nhân: vì, bởi, tại, do, nhờ - Điều kiện: tuy, dù, dẫu, thà - Giả thiết: nếu, giá, hễ - Hướng đích: để, cho - Kết quả: nên, cho nên, thì, mà Tương phản – đối lập: nhưng, song Sở hữu: của Phương tiện: bằng, với 2.2.2. Liên kết nội dung (mạch lạc) Đó là loại liên kết thể hiện mối liên quan bên trong được nhận biết dựa vào nội dung, ý nghĩa hoặc vai trò chức năng của các câu ở trong đoạn hoặc giữa các Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 21 đoạn trong văn bản. Để biết được liên kết nội dung chúng ta dựa vào nội dung, ý nghĩa hoặc vai trò chức năng của câu. Ví dụ: (1) Chỉ vì vài đồng bạc sưu mà anh Dậu bị đánh chết đi sống lại nhiều lần. (2) Dưới chế độ quân chủ thì sinh mạng của con người chẳng khác gì mạng sống của một con vật. Trong liên kết nội dung tồn tại 2 loại liên kết bên trong đó là liên kết chủ đề và liên kết logic. Bài tập: Anh (chị) hãy xác định liên kết logic của đoạn văn: Trong Truyện Kiều đồng tiền đã trở thành sức mạnh tác oai, tác quái ghê gớm. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý. Mã Giám Sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người. Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm. Sai Nha vì tiền mà làm những điều ác. Cả xã hội chạy theo tiền. Bài tập: Cho đoạn văn sau đây (1) Khi mùa xuân đến cảnh vật và con người Tiền Giang quê tôi căn đầy sức sống. (2) Những cánh đồng Cai Lậy đã phủ một màu xanh lá mạ. (3) Những bãi phù sa ven sông mịn màng hắt từng vệt sáng lên suốt cù lao Tân Phong. (4) Tất cả đang rì rào hứa hẹn một năm mới vui tươi và no đủ. (5) Đâu đó các anh chị nông dân đang chống xuồng đưa hàng ra phố huyện gương mặt ửng hồng hạnh phúc. (6) Trong vườn cây các bà mẹ cắp thúng trái cây nặng trĩu nhìn xuống dòng Kinh cười chúm chím. (7) Tất cả ai cũng như trẻ lại như có thêm nguồn sinh lực mới để sống, làm việc, xây dựng đất nước và cuộc đời. a) Xác định chủ đề của đoạn văn b) Phân tích liên kết logic tồn tại giữa các câu trong đoạn văn trên. c) Vẽ sơ đồ cấu trúc tầng bậc của các câu ở trong đoạn văn trên Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 22 2.2.2.1. Liên kết chủ đề: là loại liên kết về nội dung thể hiện ở chỗ ý nghĩa của các câu ở trong đoạn luôn luôn hướng về câu chủ đề, phục vụ cho câu chủ đề. Vì vậy, để phân tích liên kết chủ đề trước tiên chúng ta phải xác định chủ đề của đoạn văn. a. Liên kết duy trì chủ đề * Nhắc lại cùng một vật, một việc nào đó trong các câu có liên kết với nhau. * Sử dụng các phương thức liên kết: lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh. (xem thêm ví dụ tài liệu 1, tr. 136) Thảo luận: 1. Vai trò của các từ loại danh từ, động từ, tính từ, các cụm từ trong sự duy trì chủ đề? (xem tài liệu 1, DQB, tr. 138-139) 2. Những lỗi thường gặp về liên kết duy trì chủ đề (xem tài liệu 2, TNT, tr. 259-265) Bài tập: Anh (chị) hãy xác định chủ đề của đoạn văn: Trong Truyện Kiều đồng tiền đã trở thành sức mạnh tác oai, tác quái ghê gớm. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý. Mã Giám Sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người. Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm. Sai Nha vì tiền mà làm những điều ác. Cả xã hội chạy theo tiền. 2.2.2.2. Liên kết logic: là loại liên kết về nội dung thể hiện ở chỗ ý nghĩa của mỗi câu ở trong đoạn luôn luôn có vai trò chức năng nhất định đối với các câu trước đó. Vì vậy, để phân tích liên kết logic chúng ta phải dựa vào phương tiện ngôn ngữ. * Trong các văn bản tiếng Việt liên kết logic được thể hiện dưới các kiểu quan hệ logic cụ thể như: logic minh chứng, logic giải thích, logic khai triển, logic định nghĩa, logic nguyên nhân, logic kết quả, logic suy luận, logic khái quát, logic tương phản, logic song hành. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 23 Chương 3 ĐOẠN VĂN 3.1 Khái niệm đoạn văn Hiện nay khái niệm đoạn văn còn nhiều tranh cãi và chưa có được một sự thống nhất. Thông thường mỗi nhà nghiên cứu tự xác định một nội dung về nó để làm việc. Chẳng hạn như cái dấu hiệu viết hoa lùi đầu dòng được coi là khá hiển nhiên đối với nhiều người, thì được đánh giá chẳng qua là một thứ mĩ phẩm ở Longacre (1978, dẫn theo G. Brow và G. Yule, Phân tích diễn ngôn, tr.99)…(Xem thêm tài liệu của Diệp Quang Ban, tr.194-195) Đoạn văn là phần văn bản của ngôn ngữ viết, nằm giữa hai đầu chấm xuống dòng, có thể thể hiện một hoặc hơn một chủ đề. Trong cách hiểu này, đoạn văn là một kết cấu – phong cách học. Và cũng có thể xem đoạn văn là một bộ phận văn bản diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn. - Nhìn nhận về mặt hình thức là một bộ phận của văn bản do đoạn văn tạo thành. - Nhìn nhận về mặt nội dung: diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn. Đoạn văn chỉ diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn vì trong thực tế, chúng ta thường gặp các loại đoạn sau: - Loại 1: đoạn văn có đầy đủ 3 bộ phận (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) - Loại 2: đoạn văn chỉ có 2 bộ phận (mở đoạn, thân đoạn nhưng không có kết đoạn) - Loại 3: đoạn văn có 2 bộ phận (không mở đoạn, có thân đoạn, kết đoạn) - Loại 4: đoạn văn chỉ có một bộ phận (không mở đoạn, có thân đoạn, không kết đoạn) Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 24 Bài tập: Đoạn văn sau đây thuộc loại nào? “Nhất cử nhất động của Từ đều vượt khuôn khổ thường tình. Nhưng bất kể cử chỉ hành động nào của Từ đều không giống người bình thường” 3.2. Cấu trúc đoạn văn Như định nghĩa đã nêu, đoạn văn không có cấu trúc ổn định như văn bản mà tồn tại 4 loại (dạng) cấu trúc Loại 1: đủ 3 bộ phận (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) Loại 2,3: 2 bộ phận (bao gồm 2 loại bộ phận nhỏ hơn mở đoạn, thân đoạn hoặc thân đoạn, kết đoạn) Loại 4: 1 bộ phận (thân đoạn) 3.2.1. Vấn đề về câu chủ đề đoạn văn Một đoạn văn được coi là logic và mạch lạc khi đoạn văn đó đáp ứng được hai yêu cầu sau: - Các câu trong đoạn phải có liên kết - Có câu chủ đề và phải chỉ ra được câu chủ đề. Thông thường câu chủ đề hiện lên ngay trong câu đầu tiên của đoạn. Có đoạn có câu chủ đề chìm. Định nghĩa câu chủ đề: Câu chủ đề là câu mang nội dung khái quát, nội dung chung nhất của cả đoạn. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 25 Các loại câu chủ đề: - Câu chủ đề nổi: Là câu chủ đề tồn tại ngay trên đoạn văn và nó thường trùng với câu mở đoạn, câu kết đoạn hoặc cả hai - Loại 1 Loại 2 Loại 3 Câu chủ đề Câu chủ đề Câu chủ đề MĐ-KĐ MĐ KĐ - Câu chủ đề chìm: là loại câu chủ đề không tồn tại trên đoạn văn mà bị giấu kín, đòi hỏi người tiếp nhận phải phát hiện câu chủ đề (loại 4). - Cách xác định câu chủ đề chìm + Bước 1: Phải tìm ý nghĩa khái quát của mỗi câu trong đoạn. + Bước 2: Tìm mối liên hệ giữa các ý nghĩa khái quát để rút nội dung khái quát nhất. + Bước 3: Tìm các dấu hiệu hình thức giống nhau giữa các câu trong đoạn. + Bước 4: Viết câu chủ đề: (phải có chủ ngữ - vị ngữ) + Bước 5: Kiểm tra câu chủ đề, chuyển đoạn văn có câu chủ đề chìm thành câu có câu chủ đề nổi. Ví dụ: (1) Nước của ông là nước Đại Việt. “Vốn xưng nền văn hiến từ lâu”. (2) Nước của ông là một lãnh thổ riêng biệt với” cõi bờ sông núi đã chia và phong tục Bắc Nam cũng khác” (3) Nước của ông là một nền chính trị riêng biệt đã cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi đàng làm đề một vương”. (4) Nước của ông là một đỉnh cao của trí tuệ và tài năng với những hào kiệt đời nào cũng có” Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 26 Câu hỏi: 1) Câu đề? Phân biệt câu đề với phần đề của câu? Chức năng của câu đề? 2) Vị trí của câu đề trong đoạn văn? Tác dụng của việc xác định câu đề? (Xem Diệp Quang Ban, tr. 212-215) Thảo luận: Anh (chị) hãy xác định câu chủ đề đoạn văn theo các bước và phân tích cụ thể? Tư cách ngôn ngữ của đoạn văn? (Đoạn văn là đơn vị của ngôn ngữ hay của lời nói?) Quan hệ giữa đoạn văn với “chỉnh thể cú pháp trên câu? (Thế nào là chỉnh thể cú pháp trên câu? Đoạn văn có phải là chỉnh thể cú pháp trên câu?) (Xem TL1, tr. 197-200) 3.3. Phân loại đoạn văn 3.3.1. Cơ sở phân loại đoạn văn Có ba bước cơ sở - Dựa vào hình thức của đoạn văn (hoặc cấu trúc của đoạn) ( 4 loại) + Đoạn diễn dịch + Đoạn quy nạp + Đoạn song hành + Đoạn tổng – phân – hợp - Phân chia đoạn văn theo tiêu chí nội dung (tức dựa theo liên kết logic), có các đoạn: + Đoạn cơ sở + Đoạn liệt kê câu chủ đề chìm + Đoạn liệt kê câu chủ đề nổi + Đoạn hỗn hợp liên tục + Đoạn hỗn hợp gián cách Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 27 - Dựa vào kết cấu + Đoạn móc xích + Đoạn hỏi đáp + Đoạn liệt kê + Đoạn tam đoạn luận hay còn gọi Tổng – phân – hợp (lập luận 3 đoạn) 3.3.2. Đặc điểm của các đoạn văn phân loại theo hình thức * Đoạn diễn dịch (thuộc loại hai) MĐ-TĐ-O - Là đoạn có hai bộ phận: MĐ và TĐ - Về phương pháp lập luận: đoạn diễn dịch đi từ cái chung đến cái riêng, từ nhận định kết quả đến bằng chứng, dẫn chứng. - Về câu chủ đề: Đoạn diễn dịch là đoạn có câu chủ đề nổi. Ví dụ: Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương. Em thương bác đẩy xe bò chở vội cát về xây trường học và moiừ bác về nhà mình…Em thương thầy giáo một hôm trời mưa bị ngã. (Xuân Diệu) Đoạn quy nạp (loại 3) MĐ-TĐ-KĐ - Là đoạn văn có 2 bộ phận: TĐ và KĐ - Về phương pháp luận: đoạn quy nạp là đoạn đi từ cái riêng đến cái chung, từ bằng chứng, dẫn chứng đến kết luận kết quả. - Về câu chủ đề: có câu chủ đề nổi (tường minh) Ví dụ: “Hiện nay trình độ của đị đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thời giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu. Vì vậy, nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy” (Hồ Chí Minh) Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 28 Ứng dụng: + Diễn dịch thường được sử dụng trong các dạng bài văn phổ thông (phân tích, chứng minh, giải thích). + Bình giảng: dùng quy nạp + Trong phiên toà người ta sử dụng phương pháp: Quy nạp: Ở công tố viên: đưa ra bằng chứng phạm tội của bị cáo -> tội danh - > khung hình phạt) Diễn dịch: luật sư bào chữa Đoạn song hành loại 4 O – TĐ – O - Là loại đoạn chỉ có một bộ phận, TĐ, không có mở đầu và kết đoạn - Về phương pháp luận: đoạn song hành bao gồm các câu đồng chức (cùng chức năng). Nói cách khác đoạn song hành bao gồm các bằng chứng, dẫn chứng, không có câu nào mang nội dung kết quả hơn câu nào. - Câu chủ đề: chìm (hàm ẩn) Ví dụ: (1) Nước của ông là nước Đại Việt. “Vốn xưng nền văn hiến từ lâu”. (2) Nước của ông là một lãnh thổ riêng biệt với” cõi bờ sông núi đã chia và phong tục Bắc Nam cũng khác” (3) Nước của ông là một nền chính trị riêng biệt đã cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi đàng làm đề một vương”. (4) Nước của ông là một đỉnh cao của trí tuệ và tài năng với những hào kiệt đời nào cũng có” * Đoạn tổng – phân – hợp (loại 1) - Là đoạn có ba bộ phận: MĐ – TĐ – KĐ - Về phương pháp luận: là đoạn kết hợp giữa diễn dịch và quy nạp. - Câu chủ đề: tường minh Ví dụ: Trong Truyện Kiều đồng tiền đã trở thành sức mạnh tác oai, tác quái ghê gớm. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý. Mã Giám Sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người. Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm. Sai Nha vì tiền mà làm những điều ác. Cả xã hội chạy theo tiền. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 29 3.3.3. Đặc điểm của các đoạn văn phân loại theo nội dung (Dựa vào tính chất liên kết logic) Đoạn tối giản - Là loại đoạn văn thường chỉ có 2 câu đồng thời chỉ tồn tại một mối quan hệ logic. Ví dụ: “Khi nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta không thể không nói đến cuộc đời riêng của ông. Bởi lẽ, đối với Nguyễn Đình Chiểu, thơ văn và cuộc đời chỉ là một” - Tác dụng đoạn tối giản thường được dùng để trình bày một luận điểm cô đọng, ngắn gọn. Nhưng nếu dùng nhiều lần trong một văn bản thì sẽ nhàm chán, không diễn đạt hết ý (trừ trường hợp trong thể loại văn cổ, văn biểu ngẫu) * Đoạn liệt kê có câu chủ đề chìm (song hành) - Vế số lượng câu trong đoạn không hạn chế. - Về số lượng quan hệ logic ở trong đoạn được tính theo công thức: n – 1 (n: số lượng câu trong đoạn) - Về kiểu liên kết logic: luôn luôn tồn tại một kiểu duy nhất song hành Đoạn liệt kê có câu chủ đề nổi (diễn dịch và quy nạp) - Số lượng câu về nguyên tắc là không hạn chế - Số lượng quan hệ logic: cũng được tính theo công thức n – 1. - Số lượng kiểu liên kết logic: có hai kiểu trong đó 1 kiểu luôn có song hành: kiểu còn lại phục thuộc vào quan hệ giữa câu mở đoạn và câu tiếp theo hoặc câu thân đoạn với câu kết đoạn (MĐ-TĐ hoặc TĐ – KĐ) Ví dụ: (1)“Hoa mận vừa tàn thì mùa xuân đến. (2) Bầu trời ngày thêm xanh. (3) Nắng vàng ngày càng rực rỡ. (4) Vườn cây lại đâm chồi nảy lộc. (5) Rồi vườn cây lại đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy” Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 30 (1) Nhật ký trong tù có bài hồn hậu, trong trẻo như thơ dân gian. (2) lại có bài trang trọng bát ngát như thơ Đường, thơ Tống. (3) Giữ cốt cách Á Đông mà hơi thở vẫn rất hiện đại. (4) Giản dị, phong phú mà vẫn có phong cách riêng. (5)Nhật ký trong tù là một tập thơ có nghệ thuật đặc sắc”.  Đoạn văn liệt kê có câu chủ đề nổi Đoạn hỗn hợp liên tục - Số lượng câu không hạn chế - Số lượng quan hệ logic: n – 1 - Số lượng kiểu liên kết logic: từ ba kiểu trở lên - Các liên kết logic được sắp xếp không theo trật tự nhất định. Nhưng các quan hệ logic luôn luôn trực tiếp, không có gián tiếp. Ví dụ: (1) Chắc còn lâu khói thuốc lá mới biến mất trên thế gian này. (2) Nhưng rõ ràng hiện đang có xu thế chống lại việc hút thuốc la trong các hoạt động tập thể. (3) Có ban giám đốc xí nghiệp cấm hút thuốc lá trong giờ làm việc vì học tính ra rằng những người hút thuốc là làm cho xí nghiệp thiệt mỗi năm một số tiền lớn. (4) Có ban đốc không đổi dân nghiện vì trong số họ có những thợ giỏi lại đưa ra những món tiền thưởng lớn cho những ai chịu bỏ hút. (5) Có ban giám đốc lại chơi độc hơn ra lệnh: ai muốn hút thì ra ngoài đường mà hút nghĩa là phải trèo lên xuống nhiều lần mà không được dùng thang máy. (6) Trước tình hình ấy các hãng thuốc lá phải tìm cách đối phó. (7) Mới đây, có ông chủ nàh máy thuốc lá đã nói rằng sẽ cho ra đời một thứ thuốc lá không khói. Phân tích liên kết logic của đoạn văn đã cho Trong đoạn văn tồn tại bốn kiểu liên kết logic, sắp xếp không trật tự giữa các câu tồn tại liên tục trực tiếp. Do đó, gọi đoạn văn này hỗn hợp liên tục. Hướng dẫn và giải đáp: Câu 1 và Câu 2: Tồn tại logic tương phản Câu 3 và Câu 2: Tồn tại logic minh chứng Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 31 Câu 4 và Câu 3: Tồn tại logic song hành Câu 5 và Câu 4: Tồn tại logic song hành * Đoạn hỗn hợp gián tiếp (7/3 kiểu) - Về cơ bản giống với đoạn hỗn hợp liên tục giữa các câu thì không phải bao giờ cũng đều liên kết trực tiếp mà có gián cách, gián đoạn. - Phân tích đoạn văn: Khi mùa xuân đến cảnh vật và con người Tiền Giang quê tôi căn đầy sức sống. Những cánh đồng Cai Lậy đã phủ một màu xanh lá mạ. Những bãi phù sa ven sông mịn màng hắt từng vệt sáng lên suốt cù lao Tân Phong. Tất cả đang rì rào hứa hẹn một năm mới vui tươi và no đủ. Đâu đó các anh chị nông dân đang chống xuồng đưa hàng ra phố huyện gương mặt ửng hồng hạnh phúc. Trong vườn cây các bà mẹ cắp thúng trái cây nặng trĩunhìn xuống dòng Kinh cười chúm chím. Tất cả ai cũng như trẻ lại như có thêm nguồn sinh lực mới để sống, làm việc, xây dựng đất nước và cuộc đời. 3.3.4. Liên kết trong đoạn văn và giữa các đoạn văn * Liên kết trong đoạn văn - Liên kết các câu trong đoạn văn - Sử dụng tất cả các loại phương tiện và phương thức liên kết văn bản. - Liên kết giữa các đoạn văn - Liên kết các đoạn văn trong văn bản - Có thể sử dụng thêm hai phương tiện liên kết khác: Câu chuyển tiếp; Đoạn chuyển tiếp. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 32 Chương 4 VĂN BẢN 4.1. Văn bản là gì? Theo Diệp Quang Ban thì có 15 định nghĩa khác nhau về văn bản và diễn ngôn. 1. “[…] văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”.(L.Hjelmslev,1953) 2. “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ nghĩa”.(W. Koch, 1966) 3. Văn bản “là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện”. (trục dọc và trục ngang – D.Q.B) (R.Harweg,1968) 4. “Chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học (translinguistique) là diễn ngôn (discourse)- tương tự với văn bản (texte) do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó (hãy còn là sơ bộ) như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ (langue)”.(Barthes, 1970) 5. “Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phải là một đơn vụ ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó […]. Một văn bản không phải là một cái gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 33 Tốt hơn nên xem xét một văn bản như là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa”. (Halliday, 1976 – 1994 ) (cần lưu ý rằng Halliday còn xem xét văn bản ở những phương diện khác nữa) 6. “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo[…]. Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vững – ngữ pháp”. (L.M. Loseva, 1980) 7. “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những hệ và liên hệ ấy”. (Trần Ngọc Thêm, 1985) 8. “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức bên ngoài ngữ cảnh”. (Cook, 1989) 9. “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ một cuộc thoại, một tờ áp phích”. (D. Crystal, 1972) 10. “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích”. (Cook, 1989) 11. “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể”. (Crystal, 1992) 12. “Diễn ngôn là chuỗi liene tục những phát ngôn S1,..Sn, trong đó việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2<= i<=n) lệ thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S1,..Si-1. Nói cách khác, sự giải thuyết thỏa đáng một Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 34 phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước”. (I. Bellert , 1971) 13. “Chúng ta sẽ sử dụng văn bản như một thuật ngữ chuyên môn, để nói đến việc ghi lại bằng ngôn từ của một hành động giao tiếp”. (G. Brown và G. Yule, 1983) 14. “[…] Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp. “(D. Nunan, 1993) Sau đây là cách định nghĩa có tính đến những bộ môn nghiên cứu khác nhau: 15. “Văn bản: (1) Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài – chủ đề v.v… của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v…(2) Văn học: trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, […] trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản. (Bách khoa toàn thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, Sđd, tập 10, Phần chú giải thuật ngữ tr.580) Theo Bách Khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, Văn bản: (1) Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc đề tài – chủ đề vv… của nó, hình thành nên một loại đơn vị, loại như truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường vv… (2) Văn học; trước hết được coi như một tài liệu viết thường đồng nghĩa với sách…. (3) trong PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao hàm cả văn bản. Văn bản là một tập hợp câu (phải từ hai câu trở lên) tạo thành một chỉnh thể thống nhất vừa hoàn chỉnh về hình thức vừa trọn vẹn về nội dung, vừa thống nhất về cấu trúc, vừa độc lập về giao tiếp. - Vì nhằm đưa ra khỏi đối tượng nghiên cứu những trường hợp gọi là văn bản đặc biệt. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 35 - Văn bản đặc biệt là những văn bản về hình thức chỉ có một từ, một cụm từ hoặc là một kết cấu C – V (thường không phổ biến). - Văn bản mà chúng ta xem xét, nghiên cứu là những văn bản phải có cấu trúc bên trong (nghĩa là phải có liên kết). - Tập hợp câu phải là một chỉnh thể thống nhất thì mới trở thành văn bản. Giữa các câu phải có liên kết và có câu chủ đề. - Nếu chỉ định nghĩa là một tập hợp cấu tạo thành một chỉnh thể thống nhất (thì chưa đủ, thực chất mới chỉ là đoạn văn) thiếu bốn yếu số sau thì không thể trở thành văn bản. + Đoạn văn cũng là chỉnh thể, văn bản cũng là chỉnh thể cần có các tiêu chí. + Văn bản đó hoàn chỉnh về hình thức phải đầy đủ ba phần phải gắn với phong cách chức năng. Chẳng hạn như phong cách khoa học có đặc trưng phong cách riêng. Ba phần của văn bản tường minh bao gồm: mở bài, thân bài, kết luận của một bài văn. Trọn vẹn về nội dung nghĩa là văn bản đó phải triển khai đầy đủ chủ đề của văn bản. Ví dụ A- (a, b, c) người viết triển khai hai luận điểm a,b thì chưa đầy đủ. Đoạn văn “Hoa mận vừa tàn thì mùa xuân đến. Bầu trời ngày thêm xanh. Nắng vàng ngày càng rực rỡ. Rồi vườn cây lại đâm chồi nảy lộc. Rồi vườn cây lại ra hoa. Rồi vườn cây lại đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy.” của nhà văn Nguyễn Kiên. - Phân tích đoạn văn đó có khả năng thành văn bản hay không? Trước hết phải xác định chủ đề của văn bản là Mùa xuân đến (trời xuân, hạt nắng giọt mưa, vườn xuân, sinh hoạt của con người) - Nội dung trọn vẹn, nói đến mùa xuân thì luận điểm trên đầy đủ. Về hình thức ta có thể đặt được đầu đề “mùa xuân đến” như vậy nó có thể trở thành văn bản. - Thống nhất về cấu trúc nghĩa là mỗi văn bản nói riêng, mỗi phong cách văn bản nói chung luôn luôn định hình những đặc điểm về cấu trúc nhất định. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 36 - Mỗi văn bản luôn luôn định hình về cấu trúc của văn bản. Người viết văn bản phải nắm vững. 4.2. “Văn bản” và “diễn ngôn” + Giai đoạn đầu: “Văn bản” được xem như là sản phẩm ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói. + Giai đoạn sau: “Văn bản” là sản phẩm ngôn ngữ viết. “Diễn ngôn” là sản phẩm ngôn ngữ nói. + Hiện nay: “Diễn ngôn” là sản phẩm nói và sản phẩm viết. Như vậy, phân tích “diễn ngôn” còn bao hàm phân tích văn bản viết. Có thể thấy, ở giai đoạn đầu trọng tâm chú ý trong nghiên cứu tập trung ở sự kiện nói bằng chữ viết. Giai đoạn 2 ngôn ngữ nói được quan tâm nhiều hơn. Giai đoạn 3 diễn ngôn đại diện cho tất cả các sự kiện nói. Như vậy tất cả các sự kiện nói là diễn ngôn, trong đó những sự kiện nào được ghi lại bằng chữ viết hoặc các phương tiện kĩ thuật như ghi âm được gọi là văn bản. 4.3. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 4.3.1. Phân biệt cụ thể, trực quan ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Vấn đề phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết được xét trên ba phương diện: - Phương diện chất liệu sử dụng; - Phương diện hoàn cảnh sử dụng; - Phương diện các phương tiện bên trong hệ thống ngôn ngữ. 4.3.2. Phân biệt khái quát ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Bảng 01: Sự phân biệt khái quát giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết NGÔN NGỮ NÓI NGÔN NGỮ VIẾT Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ không quy Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ quy Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 37 thức, được tạo ra trong thời gian ngắn, theo kiểu ứng khẩu, không có cơ hội hiệu chính, cú pháp câu đơn giản. thức, có thời gian suy nghĩ và hiệu chính, giúp người viết tạo ra cú pháp phức tạp hơn và chọn lựa từ ngữ một cách rộng rãi hơn. Lời tự phát dễ bị giới hạn bởi trí nhớ ngắn hạn, chính điều này làm cho việc không được điều chỉnh càng tăng thêm. Ngôn ngữ viết được ghi lại nên dễ ghi nhớ và cơ hội điều chỉnh tăng lên. Nói nhanh hơn viết nên người nghe phải xử lí tức thời một chuỗi lời được tạo ra một cách vội vàng và chóng bị xoá nhoà. Và chính nhờ những hình thức cú pháp đơn giản và những từ ngữ đơn giản mà người nghe dễ xử lí thông tin Đọc nhanh hơn nghe vì người đọc làm việc với văn bản cố định, có thể đọc lướt rồi đọc lại. Nhờ vậy có thể xử lí những hình thức cú pháp phức tạp và những từ ngữ có tính chất cá nhân, đặc biệt là có thể dùng từ điển nếu cần. Có sự mặt đối mặt giữa người phát và người nhận, có kèm theo nét mặt, điệu bộ, cử chỉ,… Cuộc giao tiếp này chỉ hiện diện người nhận (người đọc), người phát vắng mặt. Ngôn ngữ nói có kết hợp nhấn giọng, điệu bộ,… mà người phát có thể khai thác triệt để. Người viết dùng các dấu chấm câu để biểu thị cảm xúc. 4.3.3. Tính biến động trong quan hệ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, mức độ phân biệt giưũa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khác nhau. Nhìn đại thể, theo Haliday, sự biến động đó trải qua ba giai đoạn lớn. - Giai đoạn 1: lời viết gần như chỉ ghi lời miệng. - Giai đoạn 2: chữ viết phát triển mạnh đến mức giữa lời miệng và lời viết có khoảng cách khá lớn. - Giai đoạn 3: sự phân biệt giữa lời miệng và lời viết trở nên mờ nhạt. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 38 4.4. Phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại Phân tích diễn ngôn là cách thức phân tích ngôn ngữ đối với những cấu tạo lớn hơn câu, bao gồm những hiện tượng như liên kết, mạch lạc, quy chiếu, chủ định… nhằm giải thích diễn ngôn từ nhiều phương diện. Phân tích hội thoại là cách nghiên cứu theo con đường kinh nghiệm và quy nạp đối với các cuộc thoại có thực, trên cơ sở đó xây dựng nguyên tắc hội thoại, khám phá cấu trúc chức năng các lời thoại. Một trong những điểm quan trọng của trong phân tích hội thoại là nhận biết chủ định của người nói và sự phản hồi phù hợp của người nghe. 4.5. Đặc trưng của văn bản 1. Yếu tố chức năng: Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản, cụ thể là người tạo văn bản dùng lời nói (miệng hay viết) của mình để thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động vào người nghe (như sai khiến, hỏi trình bày, nhận định, phủ định, mời, chào, cảm ơn v.v..) Chính chức năng này của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp. 2. Yếu tố nội dung: Văn bản có một hoặc vài ba đề tài – chủ đề xác định – giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề, hoặc xa hơn nữa, phân biệt với chuỗi câu không mạch lạc, tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra “chuỗi bất thường về nghĩa” hay “phi văn bản”. Những chuỗi câu “phi văn bản” như thế, xét về mặt hình thức từ ngữ vẫn có thể liên kết với nhau. Việc tạo ra đề tài – chủ đề xác định cho văn bản còn được coi là tạo ra tính thống nhất đề tài – chủ đề của văn bản. 3. Mạch lạc và liên kết: Là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài – chủ đề là mạch lạc – đây là yếu tố giúp phân biệt văn bản với “phi văn bản” ở mặt tổ chức nội dung. Mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết làm cái diễn cho mình, tuy nhiên mạch lạc có thể không cần đến phương thức mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc tạo ra được mạch lạc cho văn bản. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 39 4. Yếu tố chỉ lượng: Văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của nhiều câu – phát ngôn – đây là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết. 5. Yếu tố định biên: văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầu ra) và nhờ đó mà có tính kết thúc tương đối - yếu tố này giúp phân biệt văn bản khác nhau khi nhiều văn bản được tập hợp lại như trong một tập bài nghiên cứu, một tờ báo, một số tập chí, một tuyển tập văn hoặc thơ… Tóm lại văn bản có 5 đặc trưng thực tiễn, cụ thể là: - Đích hay chủ định của người nói; - Đề tài – chủ đề xác định; - Mạch lạc và (+,-) liên kết; - Gồm nhiều câu – phát ngôn nối tiếp; - Có biên giới ở bên phải hay trái (hay ở hai đầu) Mỗi một đặc trưng như là một dấu hiệu có tác dụng nhất định góp phần làm cho một quãng lời là một văn bản, trong số đó đặc trưng mạch lạc hiểu rộng được là đặc trưng quyết định tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture). 4.6. Bố cục của văn bản (cấu trúc) Một văn bản ở dạng mô hình trừu tượng thì luôn luôn có ba phần. Phần mở đầu, phần khai triển, phần kết luận. Ngôn ngữ là đối tượng trừu tượng. Tương tự, văn bản cũng ở dạng trừu tượng có cấu trúc ba phần nhưng khi được thể hiện trong các biến thể chức năng nghĩa là trong các phong cách văn bản thì ranh giới và trật tự ba phần của văn bản là khác nhau. 4.6.1 Ranh giới - Trong các phong cách văn bản chuẩn mực (phong cách khoa học, phong cách hành chính, và một bộ phận của phong cách báo chí – chính luận) thì ranh giới ba phần của văn bản hết sức rõ ràng, tách bạch.  Trái lại trong các phong cách văn bản lệch chuẩn (Phong cách nghệ thuật, và một bộ phận phong cách báo chí-chính luận) nhóm thông tấn, nhóm chính Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 40 luận, nhóm chính luận nghệ thuật. Ranh giới ba phần của văn bản không rõ ràng, nhập nhằng. Thuộc phong cách chuẩn mực Thuộc phong cách lệch chuẩn Trong phỏng vấn Giống với ngôn ngữ văn chương Trang trọng, chính xác Bóng bẩy tu từ Không được đưa những từ ngữ, giàu chất biểu cảm tu từ, bóng bẩy. và giá trị biểu cảm 4.6.2 Trật tự - Đối với các phong cách văn bản chuẩn mực thì trật tự ba phần của văn bản có tính chất bắt buộc trái lại đối với các phong cách văn bản lệch chuẩn thì trật tự ba phần của văn bản nếu có hoặc không bắt buộc. a/Phạm trù hình thức của văn bản: yếu tố và kết cấu * Yếu tố ngôn ngữ (âm thanh, từ ngữ, kiểu câu, phương pháp) Bao gồm các đơn vị âm thanh, từ ngữ, kiểu câu và các phương pháp diễn đạt. Vai trò và chức năng của ngôn ngữ ở trong các phong cách văn bản khác nhau đều khác nhau. Trong các phong cách văn bản chuẩn mực, ngôn ngữ như vật liệu để trình bày nội dung của văn bản để thông tin về nội dung hiện thực. Trái lại trong các phong cách văn bản lệch chuẩn người có vai trò như là chất liệu để xây dựng hình tượng. Khi hình tượng đã được hình thành thì đó mới là đơn vị trực tiếp thông tin về hiện thực. Ví dụ: “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Cha: Trong cuộc sống hàng, khi ta gọi người đàng ông là cha: khi người đó có công sinh thành ra ta -> mỗi con người chỉ có một người cha duy nhất. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 41 Từ cha ở đây mang ý nghĩa khác: nhân dân Việt Nam xem Bác Hồ là cha vì người có công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (lúc này thế giới mới biết đến Việt Nam). Bác trong cuộc sống hàng ngày, khi người là Bác khi người đó lớn tuổi hơn cha ta. Bác có ý nghĩa tiền bối -> thừa nhận Bác thuộc thế hệ tiền bối, thừa nhận công lao của Người đã dẫn dắt, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Qua câu thơ đó, nhà thơ đã phát thảo đầy đủ bức chân dung Hồ Chủ Tịch đồng thời bày tỏ lòng biết ơn vô hạn, sự trân trọng đối với Người. Yếu tố kết cấu: Kết cấu là mối liên hệ giữa các yếu tố nội dung văn bản. Nói cách khác kết cấu là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố nội dung của văn bản. Trong các phong cách văn bản khác, kết cấu cũng khác nhau: + Trong các phong cách văn bản chuẩn mực, kết cấu theo trật tự logic về thời gian (trật tự phía sau về không gian (thường từ rộng ->hẹp, ngoài, trong, trên xuống dưới). + Trái lại, đối với các phong cách văn bản lệch chuẩn, kết cấu hoàn toàn không mang tính bắt buộc, trật tự logic không theo trật tự logic khách quan mà theo logic chủ quan của tác giả. Ví dụ: Tuyên truyền A. Cán bộ, đảng viên, nhân dân mất cảnh giác. B. Kêu gọi, động viên cán bộ đảng viên và nhân dân đề cao cảnh giác. C. Phân tích tác dụng tuyên truyền. D. Đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu chính sách tuyên truyền. Hãy sắp xếp các nội dung văn bản đó theo đúng nội dung của văn bản 1. C 2. D 3. A Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 42 4. B Hai yếu tố thuộc phạm trù hình thức của văn bản không hướng đến hình thức mà hướng đến người tiếp nhận, tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho người tiếp nhận. Nếu người tạo lập lựa chọn và vận dụng ngôn ngữ phù hợp, sử dụng kết cấu phù hợp thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người tiếp nhận. => Trái lại, nếu người tạo lập lựa chọn và vận dụng ngôn ngữ không phù hợp, sử dụng kết cấu không phù hợp sẽ gây khó khăn cho người tiếp nhận. Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 43 HƯỚNG DẪN KIỂM TRA VÀ ÔN TẬP KIỂM TRA Viết tiểu luận tập trung 3 vấn đề chính như sau: 1. Xoay quanh vấn đề về liên kết 2. Xoay quanh vấn đề về đoạn văn 3. Xoay quanh vấn đề về văn bản Hướng dẫn Đề tài: 1. Nghiên cứu liên kết hình thức trong các văn bản chính luận của báo? 2. Nghiên cứu liên kết hình thức trong các văn bản chính luận của Hồ Chí Minh? 3. Tìm hiểu hoặc nghiên cứu liên kết logic trong tác phẩm Tuyên ngôn độc lập? ÔN TẬP Sinh viên ôn tập tất cả nội dung của học phần TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2005 (tái bản lần thứ 2) 2. Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt Nxb Giáo dục, 2002 (tái bản lần thứ 2) 3. Diệp Quang Ban, Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản Nxb Giáo dục, 2009 4.I. R. Galperin, Văn bản với tư cách là đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học, Nxb KHXH, 1987 Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 44 MỤC LỤC Chương 1 ................................................................................................. 1 TỔNG QUAN VỀ BỘ MÔN NGỮ PHÁP VĂN BẢN .......................... 1 1.1. Giới thiệu sơ lược về ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp văn bản ...................................................................................................................... 1 1.1.1 Ngữ pháp truyền thống ............................................................ 1 1.1.2. Các đơn vị chủ yếu của ngôn ngữError! Bookmark not defined. 1.2. Ngữ pháp văn bản ......................................................................... 2 1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của bộ môn ngữ pháp văn bản .................................................................................................................. 2 1.2.2. Những ứng dụng ngữ pháp văn bản trong thực tế .................. 4 Chương 2 ................................................................................................. 6 LIÊN KẾT VĂN BẢN TIẾNG VIỆT ..................................................... 6 2.1. Khái niệm liên kết ......................................................................... 6 2.2. Các loại liên kết trong văn bản ..................................................... 7 2.2.1. Liên kết hình thức ................................................................... 8 2.2.2. Liên kết nội dung (mạch lạc) ................................................ 20 Chương 3 ............................................................................................... 23 ĐOẠN VĂN .......................................................................................... 23 3.1 Khái niệm đoạn văn ..................................................................... 23 3.2. Cấu trúc đoạn văn ....................................................................... 24 3.2.1. Vấn đề về câu chủ đề đoạn văn ............................................ 24 3.3. Phân loại đoạn văn ...................................................................... 26 3.3.1. Cơ sở phân loại đoạn văn ..................................................... 26 3.3.2. Đặc điểm của các đoạn văn phân loại theo hình thức .......... 27 3.3.3. Đặc điểm của các đoạn văn phân loại theo nội dung ........... 29 3.3.4.Liên kết trong đoạn văn và giữa các đoạn văn ...................... 31 Bài giảng ngữ pháp văn bản Tiếng Việt Biên soạn: ThS. Phan Thị Thanh Thúy 45 Chương 4 ............................................................................................... 32 VĂN BẢN ............................................................................................. 32 4.1. Văn bản là gì? ............................................................................ 32 4.2. “Văn bản” và “diễn ngôn” .......................................................... 36 4.3. Đặc trưng của văn bản ................................................................ 38 4.4. Bố cục của văn bản (cấu trúc) ..................................................... 39 4.4.1 Ranh giới ............................................................................... 39 4.4.2 Trật tự .................................................................................... 40 MỤC LỤC ............................................................................................. 44

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbai_giang_ngu_phap_van_ban_tieng_viet_4397.pdf
Tài liệu liên quan